Từ những ngày còn ngồi trên ghế nhà trường, cùng với những bài học “nhập môn kiến trúc”, “khái niệm tính dân tộc của kiến trúc” luôn ám ảnh tôi, buộc tôi suy nghĩ, tìm tòi và học hỏi. Một số điều thu hoạch sau đây tôi xin được nêu để trao đổi về vấn đề này, hy vọng góp phần làm sáng tỏ dần một lĩnh vực khó khăn nhưng rất quan trọng.
Mấy lời phân tích của giáo sư Nguyễn Hồng Phong
Lịch sử kiến trúc thế giới thường giới thiệu nhiều về những công trình nguy nga đồ sộ và vĩ đại của nhiều dân tộc. Nhìn lại vốn kiến trúc cổ của ta nói chung quy mô đều nhỏ, tuy về cách làm thì rất tinh xảo. Có người đã nói về cảm giác ngỡ ngàng của mình trước quy mô quá nhỏ của Chùa Một cột, một công trình rất quan trọng trong kho tàng vốn cổ, của kiến trúc dân tộc – người ta cũng kể lại những ấn tượng như thế của khách nước ngoài. Chùa Một Cột là trường hợp hơi cá biệt, nhưng nhiều công trình khác như chùa Bút Tháp, đình làng Đình Bảng, chùa Tây Phương, Văn Miếu, Quốc Tử Giám… đều không thể nào so sánh về quy mô với những đền đài cung miếu của nhiều nước khác ở phương Đông và phương Tây.

Chùa Một Cột xưa (Ảnh: phattuvietnam.net)
Khi đọc cuốn “Tìm hiểu tính cách dân tộc” của tác giả Nguyễn Hồng Phong (Nhà xuất bản Khoa học – 1963), tôi thấy được một số điều bổ ích. Tác giả nêu lí do của tình trạng trên là “ta phải tập trung nhân lực, vật lực vào công cuộc đấu tranh rất gian khổ chống tự nhiên và chống giặc ngoại xâm, mặt khác nền kinh tế nước ta lại bị hai lực lượng ấy phá hoại liên tục và lại kiệt quệ đi rất nhiều, khiến cho ta không có người đâu của đâu mà bỏ vào các công trình to lớn cần hàng vạn người, thậm chí hàng chục vạn người như ở các nước khác”.
Quả vậy, bối cảnh tự nhiên với những khó khăn do bão lụt, hạn hán và một lịch sử chống ngoại xâm lâu dài và liên tục đã không cho phép con người ở đây chi phí nhiều sức người, sức của vào những lâu đài nguy nga đồ sộ, bối cảnh ấy cũng tạo nên đức tính giản dị, tiết kiệm, tính toán chi li trong việc dựng các công trình kiến trúc, từ nhà ở đến đình chùa miếu mạo, một quy mô kiến trúc không vượt xa tầm vóc con người. Từ đây tôi rút ra được nhận thức về một đặc trưng quan trọng trong tính cách dân tộc của con người Việt Nam được đúc kết từ cuộc đấu tranh lâu dài chống tự nhiên và chống ngoại xâm: Đức tính cần cù giản dị và từ đó đã hình thành nên truyền thống của kiến trúc dân tộc, một nền kiến trúc rất khiêm tốn về quy mô và không xa hoa rườm rà về trang trí.
Đặc điểm khí hậu có ảnh hưởng gì?
Yếu tố khí hậu có ảnh hưởng rõ nét tới đặc trưng của kiến trúc mỗi địa phương và từ đó hình thành nên tính dân tộc của kiến trúc là điều dễ thấy. Trong điều kiện khí hậu nóng ẩm, kiến trúc Việt Nam từ ngôi nhà dân gian tới đền chùa, cung điện… đều thể hiện rõ cách phản ứng của con người nhằm hạn chế những tác động bất lợi của thiên nhiên, có thể nói khí hậu đã tác động đến giải pháp kiến trúc thông qua phản ứng của con người. Khi phân tích về “những mái nhà tranh cổ truyền”, nhà kiến trúc lão thành Nguyễn Cao Luyện đã nêu lên một quy luật “thiên nhiên không thể tự nó chi phối được cái cốt cách của nếp nhà, chính là do con người đã nhận thức rõ thiên nhiên mà sáng tạo ra cốt cách của nếp nhà trên đất nước mình”.
Từ đó đặt thành vấn đề: Muốn tìm hiểu đặc điểm kiến trúc dân tộc thì không thể không biết đến những đặc điểm thiên nhiên, đặc biệt là đặc điểm khí hậu – nguồn gốc phát sinh những giải pháp của kiến trúc truyền thống.
Chức năng hàng đầu của kiến trúc là giúp con người tạo dựng cho mình một không gian riêng tách ra từ không gian chung. Đương nhiên không gian riêng và môi trường nhỏ ấy phải đáp ứng những nhu cầu của sinh lí cơ thể người: con người phải được che nắng che mưa, chống nóng về mùa hạ và giữ ấm về mùa đông và chính vì trên trái đất có những hình thái kiến trúc khác nhau như kiến trúc vùng lạnh, kiến trúc vùng nóng, ngay trong vùng nóng, nóng khô và nóng ẩm cũng dẫn tới những dạng kiến trúc khác nhau.
Một người nước ngoài sau khi thăm nhiều kiến trúc cổ Việt Nam được hỏi về ấn tượng gì sâu sắc đã không ngần ngại trả lời là “cái mái”. Thật vậy, trong bối cảnh khí hậu nóng ẩm, nắng dữ dội và mưa cũng gay gắt thì cái mái nhà là yếu tố trước tiên giúp con người bảo vệ mình trước những khắc nghiệt của thiên nhiên. Mái phải dốc đảm bảo thoát nước, phải rộng để che được cả ngôi nhà (che nắng xiên và che mưa hất), phải đủ dày để đảm bảo cách nhiệt.

Mái nhà truyền thống có độ dốc, đảm bảo thoát nước và độ dày để cách nhiệt (Ảnh: BambuBuild)
Vì cái mái có vị trí quan trọng như vậy nên mặt chính diện của công trình kiến trúc cổ phần mái thường chiếm quá nửa khoảng không gian từ trên xuống – phần mái chiếm nhiều, che bớt một phần cột nên chiều cao cột trên chính diện nhà chỉ còn chiếm phần rất nhỏ. Có thể coi mái lớn và cột thấp như một đặc trưng khá phổ biến của kiến trúc vùng nóng ẩm và cũng trở thành một dấu ấn rõ nét trong tính dân tộc của kiến trúc Việt Nam. Tôi còn nhớ vào dịp thảo luận nhận xét về những phương án kiến trúc của công trình lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh, có ý kiến cho rằng làm cột cao là không dân tộc mặc dù nó có tạo cho công trình dáng vẻ hùng vĩ. Tuy vẫn thừa nhận rằng cột cao hay cột thấp bản thân nó không phải là yếu tố của tính dân tộc nhưng vì đã quen nhìn kiến trúc truyền thống của ta với hàng cột thấp trên chính diện nên khi đứng trước một “mặt nhà” với hàng cột cao quả là có cảm giác xa lạ.
Quả thật yếu tố mái nhà chiếm phần tỉ lệ quan trọng trên mặt nhà đã là một yếu tố gây ấn tượng mạnh, và tính chất phổ biến của đặc điểm này nhất định góp phần không nhỏ vào đặc tính của kiến trúc dân tộc. Tôi rút ra điều nhận thức: Yếu tố khí hậu có tác động quyết định đến sự hình thành tính dân tộc của kiến trúc Việt Nam.
Tại một nước Châu Phi theo đạo Hồi
Đứng ra xa để nhìn lại ngôi nhà của mình có khi lại phát hiện ra được những điều mà khi ở trong ngôi nhà đó không thấy được.
Trong thời gian công tác tại Angiêri, tôi đã tranh thủ thời gian rảnh rỗi để xem xét tìm hiểu và suy ngẫm về tính dân tộc của kiến trúc. Đây là đất nước thuộc vùng nóng khô, cũng là dịp tốt để hiểu rõ hơn những gì là đặc trưng của khí hậu nóng ẩm. Ở đây trời quang gắt gao (cường độ trực xạ rất lớn, tán xạ không đáng kể vì ít mây) đặc biệt ở vùng gần sa mạc thường xuyên có gió cát, đôi khi là bão cát, đi ngoài trời thấy nóng bỏng. Nhưng khi vào bóng râm thì cảm thấy khác hẳn. Cách chống nóng ẩm ở đây là ngăn bức xạ tích cực và tăng lượng hơi ẩm (không phải thông gió giảm độ ẩm như ở vùng nóng ẩm).
Kiến trúc ở đây thuộc loại kiến trúc “kín”. Kín để hạn chế bức xạ mặt trời và giữ hơi ẩm trong nhà. Ở vùng nông thôn nhà bằng đất không nung rất phổ biến, ít cửa và ô cửa rất nhỏ. Mái nhà cũng bằng đất đạt hiệu quả cách nhiệt rất cao. Mặt bằng nhà thường có dạng quây kín tạo thành sân trong. Cửa mở đều hướng về phía sân trong là nơi có không khí rất dễ chịu và không bị ảnh hưởng của gió cát bỏng rát, ánh nắng được hạn chế và là nơi giữ được hơi ấm. Nằm giữa vùng sa mạc, các điểm dân cư co cụm lại thành những ốc đảo với diện tích không lớn lắm, nhà nọ sát vách nhà kia chen chúc nhau chỉ chừa lại những lối đi rất nhỏ. Do xây dựng với mật độ cao như vậy, nhà nọ che nắng cho nhà kia khiến cho bên trong khu dân cư mát dịu tia mặt trời không lọt tới được, nước không bị bốc hơi quá mạnh tạo nên môi trường dễ chịu.
Theo quan niệm của đạo Hồi thì gia đình là một đơn vị đóng kín, người phụ nữ ít ra khỏi nhà, ít giao tiếp và khi ra khỏi nhà phụ nữ vẫn còn dùng mạng che nửa mặt. Quan niệm gia đình khép kín này lại rất phù hợp với đặc điểm ngôi nhà ở khép kín do tính chất khí hậu. Cũng do yêu cầu che nắng và hạn chế sự bốc hơi của cơ thể mà y phục của người địa phương này cũng đóng rất kín và ở đây có thể thấy rõ mối quan hệ giữa khí hậu, y phục và kiến trúc. Tôi nhận thức rằng đối với kiến trúc ở đây nhờ thích ứng với đặc điểm khí hậu nóng khô cùng với những phong tục tập quán Hồi giáo mà có được những nét đặc sắc rất dễ phân biệt với kiến trúc các vùng khác và của dân tộc khác.
Ngay tại các đô thị được phát triển khá hiện đại, đặc trưng của kiến trúc kín cùng với các mô típ và hoa văn trang trí Hồi giáo (phổ biến là dạng hình học, ít dùng hình động vật) vẫn được bảo tồn rất bền vững ngay trong các công trình lớn như trường học, nhà văn hóa, trụ sở cơ quan. Tính truyền thống ở đây rất mạnh, với đạo Hồi được coi là quốc đạo nên mặc dù có rất nhiều công trình hiện đại, xây dựng hoàn toàn với vật liệu và kỹ thuật mang từ châu Âu sang, do người châu Âu đến xây dựng, nhưng những công trình có phong cách kiến trúc truyền thống vẫn rất phong phú và có chỗ đứng vững chắc. Trong khi trao đổi với các bạn kiến trúc ở đây ít thấy có biểu hiện lo lắng về một sự lai tạp giữa kiến trúc truyền thống của địa phương với kiến trúc Âu Tây, sự tương phản giữa hai loại kiến trúc này rất rõ nét nhưng cả hai vẫn song song tồn tại ở khắp mọi nơi.
Kiến trúc hiện đại và tính hiện đại của kiến trúc
Khái niệm hiện đại khi nói về tính dân tộc và hiện đại của kiến trúc nên hiểu như thế nào?
Trong lịch sử kiến trúc, theo quan niệm của Michel Ragon thì thời kỳ hiện đại của kiến trúc được mở đầu vào lúc xuất hiện những công trình lắp dựng bằng vật liệu kim loại mà tiêu biểu là “lâu đài Pha lê” được xây dựng nhân dịp triển lãm quốc tế lần đầu tổ chức ở Anh vào năm 1850.

Lâu đài Pha lê – Kỳ quan kiến trúc thế kỷ 19 (Ảnh: Archdaily)
Công trình này xứng đáng được coi là cái mốc cho một thời kỳ mới của kiến trúc với vật liệu xây dựng mới là sắt thép và thủy tinh, với cách xây dựng mới là lắp dựng, công trình này cho phép tạo ra một không gian rộng lớn (trên diện tích 7,5 ha) với ánh sáng tự nhiên chan hòa thích hợp với chức năng nhà trưng bày, đồng thời đảm bảo một tốc độ xây dựng kỉ lục theo kiểu sản xuất công nghiệp.
Như vậy thời kỳ hiện đại của kiến trúc là kết quả của một giai đoạn phát triển mới của khoa học kĩ thuật trước tiên là ở việc chế tạo các vật liệu xây dựng mới (sắt thép, bê tông, kính, chất dẻo…) và kèm theo đó là các phương pháp xây dựng mới theo kiểu công nghiệp, tạo ra được những công trình với những tính năng sử dụng và diễn cảm nghệ thuật hoàn toàn khác các công trình trước kia với các loại vật liệu xây dựng cũ như gạch, đá, gỗ… Do đó tính hiện đại của kiến trúc thể hiện trước tiên ở đặc trưng kĩ thuật của công trình đồng thời về công năng nó phải phù hợp với những yêu cầu của lối sống hiện đại.
Mỗi thứ vật liệu có “ngôn ngữ” riêng của nó, nhưng không phải không có trường hợp người ta muốn vật liệu này lại “nói” bằng ngôn ngữ của vật liệu khác, có công trình bê tông cốt thép lại được làm theo phong cách của kiến trúc gỗ. Cách làm này cũng có lúc được tán thưởng nhưng riêng tôi sợ rằng nó không thỏa đáng vì có phần áp đặt.
Các loại vật liệu xây dựng hiện đại đặc biệt là bê tông và bê tông cốt thép được sử dụng phổ biến khắp nơi trên mọi châu lục đã làm giảm đi nhiều tính cách địa phương của kiến trúc ở từng vùng. Có lúc có người lo rằng tình hình này sẽ dẫn tới xu hướng “thế giới hóa” của kiến trúc hiện đại. Thực ra không hẳn như vậy vì vật liệu mới chỉ là một yếu tố tạo nên kiến trúc trong khi đó linh hồn của kiến trúc lại là việc tổ chức không gian theo chức năng sử dụng. Cùng với sự phát triển mạnh mẽ của ngành thông tin và giao thông vận tải, những địa phương mà trước kia còn là xa xôi hẻo lánh thì nay không còn mang tính cô lập nữa. Người ở vùng này dễ dàng được sử dụng những sản phẩm của vùng khác và trong xu hướng ấy, nhiều loại kết cấu của công trình xây dựng đã trở thành sản phẩm của sản xuất công nghiệp và được lưu thông tới khắp mọi miền làm cho đặc tính địa phương của kiến trúc ngày càng giảm bớt; chính trong xu thế ấy mà vấn đề tính dân tộc của kiến trúc được đặt ra, như một đối trọng cho xu thế thống nhất hóa của kiến trúc thế giới.
Trở lại vấn đề của ta
Ra đời trong khung cảnh môi trường nhiệt đới ẩm ướt và chịu ảnh hưởng của gió mùa, các kiến trúc của ta dù cổ xưa hay đương đại đều chịu ảnh hưởng của những yếu tố thiên nhiên đó trong khi thực hiện chức năng tạo ra một môi trường sống nhân tạo tách ra từ môi trường sống tự nhiên.
Che mưa và tránh nắng tích cực đồng thời đảm bảo thông gió tự nhiên là những yêu cầu nhất thiết phải được đảm bảo đối với kiến trúc ở đây. Che mưa phải đảm bảo cả những khi mưa to kèm theo gió lớn tạo nên mưa hắt rất mạnh vào công trình. Che nắng phải đảm bảo ngăn được trực xạ và cả tán xạ do lượng mây rất lớn. Những yêu câu này do bắt nguồn từ những yếu tố địa lí tự nhiên tồn tại lâu bền hầu như đã trở thành những nguyên tắc của kiến trúc nhiệt đới nóng ẩm.
Trong nhiều yếu tố tạo nên tính dân tộc của kiến trúc nước ta, có lẽ nên coi yếu tố khí hậu vào loại quan trọng hàng đầu. Nó không những chi phối những nguyên tắc xây dựng cũng như cách cấu tạo các bộ phận công trình trong kiến trúc truyền thống mà những nguyên tắc này còn được bảo lưu trong những kiến trúc hiện đại. Một số kiến trúc sư Pháp khi làm những công trình trên đất Việt Nam, do đã tôn trọng những nguyên tắc này nên đã có được một số công trình ít nhiều mang phong cách truyền thống của kiến trúc Việt Nam mà ta đã thấy như công trình Bảo tàng lịch sử (Trường Viễn Đông Bác cổ cũ), Bộ Ngoại giao (Sở Tài chính cũ), Viện Vệ sinh dịch tễ (Viện Yersin), Trường Đại học Y cũ (Đường Lê Thánh Tông)…
Để hỗ trợ cho chức năng che mưa và tránh nắng của mái, trong kiến trúc truyền thống còn sử dụng phổ biến các tấm giại giúp cho việc che mưa hắt và “lọc” bớt ánh nắng chói chang. Giải pháp này được tái hiện trong nhiều kiến trúc mới với những tấm tường có lỗ hoa mang nhiều kiểu hoa văn trang trí khác nhau đã gây được ấn tượng nhất định về kiến trúc truyền thống. Vật liệu xây dựng là một yếu tố quan trọng tạo nên tính địa phương của kiến trúc và cũng góp phần quan trọng vào sự hình thành tính dân tộc của kiến trúc.

Bảo tàng lịch sử (Trường Viễn Đông Bác cổ cũ) (Ảnh: Website Trung tâm Lưu trữ quốc gia I)
Với vật liệu là tre, gỗ, các loại đất nung, đá vôi, đá ong… rất dễ làm cho kiến trúc có màu sắc dân tộc. Các loại vật liệu này giờ đây không còn phổ biến mà phần lớn đã nhường chỗ cho bê tông, kim loại, kính, chất dẻo… tuy nhiên trên một số bộ phận hoặc chi tiết trang trí có sự kết hợp khéo léo những vật liệu truyền thống như men, gốm, đá thiên nhiên… cũng đem lại những hiệu quả đáng kể.
Khí hậu nóng ẩm còn tạo điều kiện thuận lợi cho sự phát triển của thảm thực vật, vì vậy cây xanh là yếu tố không thể thiếu của kiến trúc truyền thống. Cùng với cây xanh, mặt nước thiên nhiên và mặt nước nhân tạo góp phần tạo nên cảnh quan sinh động của khung cảnh kiến trúc vùng nhiệt đới nóng ẩm, việc khai thác cây xanh và mặt nước trong tổng thể kiến trúc như thế nào để thể hiện được đặc trưng của nghệ thuật kiến trúc cảnh quan mang tính truyền thống Việt Nam là một đề tài cần được khai thác và làm sáng sáng tỏ. Vườn bên trong của khách sạn Thắng Lợi là một tìm tòi đáng khích lệ trong việc khai thác các yếu tố’ thực vật, mặt nước nhằm tăng thêm phong cách kiến trúc dân tộc.
Tóm lại, nhận thức của tôi về đặc điểm truyền thống của kiến trúc dân tộc Việt Nam biểu hiện ở chỗ:
+ Một nền kiến trúc giản dị thanh thoát với quy mô khiêm tốn, tạo nên những không gian không vượt quá những nhu cầu thực sự của hoạt động của tầm vóc con người.
+ Một nền kiến trúc gắn liền với khung cảnh thiên nhiên, thích ứng với thiên nhiên nhiệt đới nóng ẩm bằng những kết cấu đáp ứng tốt yêu cầu che mưa, che nắng, tạo thông gió tự nhiên giảm độ ẩm và lăng khả năng làm mát.
+ Một nền kiến trúc được tạo dựng từ những sản vật tự nhiên của địa phương, được gia công tinh tế thể hiện bàn tay khéo léo và đầu óc tế nhị.
+ Khi phát biểu vào thời kì kiến trúc hiện đại, nhiều đặc điểm nêu trên vẫn được lưu giữ giúp cho kiến trúc đáp ứng được ở mức độ cao những đặc điểm tâm sinh lí cũng như những nhu cầu thẩm mĩ của người Việt Nam, mặc dù nhiều yếu tố vật chất của kiến trúc đã thay đổi.
PGS. KTS Trần Hùng
(Bài đăng trên kienviet.net ngày 22/05/2024)
