Kiến trúc cảnh quan truyền thống ở Việt Nam: Tôn trọng tối đa, can thiệp tối thiểu vào hình thái tự nhiên

Kiến trúc cảnh quan truyền thống ở Việt Nam: Tôn trọng tối đa, can thiệp tối thiểu vào hình thái tự nhiên

Ở Việt Nam, từ ngàn đời nay thiên nhiên trở thành cái nền cho kiến trúc, kiến trúc như những bông hoa tô điểm cho thiên nhiên đã thành một truyền thống tạo dựng kiến trúc cảnh quan từ thủa ông cha. “Thiên nhiên bao giờ cũng đẹp mà kiến trúc thì không phải bao giờ cũng thế. Thiên nhiên luôn chứa đựng trong nó sự đa dạng phong phú và khả năng sáng tạo đến vô cùng, vô tận… Trong khi tất cả những gì Kiến trúc làm được vẫn chỉ là những ngôi nhà vuông vắn, ngay ngắn… Ngay cả lăng tẩm, đền đài kỳ vĩ lớn lao và phức tạp nhất cũng không thể sánh được với vẻ tinh xảo đa dạng và kỳ bí mà thiên nhiên ban tặng. Ý thức được điều này, con người đã sớm biết cách sử dụng thiên nhiên, lợi dụng thiên nhiên để tô điểm thêm cho các sáng tạo nghệ thuật của mình’’[1].

Điều này có thể thấy rõ nét nhất ở những cung điện, lăng tẩm ở Huế, hay còn sót lại ở diện mạo nhiều TP khác. Ở Huế, sự khéo léo thông minh về tạo dựng cảnh quan của ông cha đã tạo nên nét đẹp thơ mộng, lãng du với “Lối xưa xe ngựa hồn thu thảo’’, mỗi góc phố, mỗi cung đường đều chứa đầy sức cuốn hút. Một phần quan trọng chính là nhờ cái nhân văn, nhân bản sâu sắc của tâm hồn Việt. Có thể thấy ở lăng Tự Đức là một mô thức hoàn hảo, một bài thơ về cách làm Kiến trúc cảnh quan truyền thống. Đến cả người Pháp khi lựa chọn phương án Kiến trúc cầu Tràng Tiền, cũng đã rất ấn tượng với cảnh sắc nơi đây, vậy nên mô hình mà họ chọn cho đến ngày nay, sau hàng trăm năm cũng không hề phai lạc về tính gắn kết hữu cơ đầy chất thơ với cảnh quan. “Những ngôi đình, ngôi chùa của miền Bắc cũng vậy, cứ như những cây cổ thụ mọc lên từ sườn núi, mé sông. Nếu không có cái thế đó, thì họ cũng biết tạo nên một mặt nước phía trước, một bờ đất, một rặng tre phía sau, một cây cổ thụ trùm bóng mát lên khoảnh sân góc mái. Kiến trúc như một phần của thiên nhiên’’[2]

Tổ chức cảnh quan ở môi trường ở dân gian – Tôn trọng tuyệt đối địa hình và cảnh quan thiên nhiên

Loại hình này chiếm một tỷ lệ áp đảo trong kiến trúc truyền thống của Việt Nam. Đối với công trình do người Việt tạo dựng thì điều này gần như là tâm niệm hiển nhiên. Có thể thấy điều này biểu hiện rất rõ ở tổ chức không gian mọi làng quê nước ta từ Bắc chí Nam. Ở miền núi phía Bắc, đó là những bản làng cheo leo trên sườn núi hay trong thung lũng, có sự gắn kết vô cùng hài hoà với cảnh sắc địa phương. Dường như mọi thung đồi, khe suối ở đây đều đựơc tôn trọng, giữ gìn tuyệt đối. Những ngôi nhà ở của đồng bào chỉ như những chấm phá điểm tô thêm cho khung cảnh hữu tình, với hình hài thật tao nhã, vật liệu bản địa gắn kết. Vào trong từng khuôn viên, từ thực thể ngôi nhà, đến sân, vườn, ao, tất cả đều bắt nguồn cải dựng khéo léo từ thiên nhiên. Đặc biệt là bản thân những khuôn viên đó như là sự kết phát tự nhiên của thiên nhiên. Một điều thú vị nữa là, sự kết nối thành chuỗi, khóm của nhà ở và các công trình cộng đồng đều rất rõ nét ở mỗi làng xã. Thêm vào đó, những con đường quanh co uốn lượn mòn theo năm tháng ăn nhập với tầng bậc địa hình, thật sự đã góp nên những hoạ đồ thiên nhiên quyến rũ.

Cảnh quan quanh nhà

Với khu vực đồng bằng miền Bắc, những ý niệm đó của ông cha cũng không hề bị mai một. Có ai đã ở, đã đến những làng quê ven sườn đồi, phía trước là cánh đồng mênh mông trồng lúa ngô khoai, hay có thể cả thôn làng nằm giữa vùng đồng bằng bát ngát phẳng. Những ngôi nhà, khuôn viên ở đó như những bài thơ, tô điểm chung cho khung cảnh thanh bình no ấm. Những rặng tre, bờ xoan, vườn mít chuối, hàng cau… là sự bày sắp cảnh quan thật tự nhiên của người “KTS – chủ nhà”, để lại vô vàn những điều kỳ thú sâu xa về bản sắc. Khung cảnh làng, liên làng với cây đa, giếng nước, sân đình, cổng làng, hoa gạo thắm đỏ… hoà quyện với nhau thành những bức tranh tuyệt sắc, đến mức không thể phân rõ đâu là thiên tạo, đâu là nhân tạo. Ngoài ra còn có những loại công trình công cộng rất đặc biệt, sự đóng góp hình hài và cách tổ chức không gian cảnh quan của nó làm cho mỗi ngôi làng không còn đơn điệu, mà hết sức phong phú hài hoà – Đó là đình, chùa, miếu mạo. Trong kiến trúc truyền thống, những dạng công trình này được xây dựng thường đồ sộ hơn nhà ở, và bao giờ cũng được chọn trên mảnh đất trống, có độ cao đã định sẵn, tôn trọng hoàn toàn, giữ nguyên những gì tự nhiên đã có ở xung quanh. Mạng lưới hạ tầng giao thông ở đây cũng phát triển tự nhiên, mềm mại theo địa hình, kết hợp cùng khuôn viên công trình tôn tạo thiên nhiên một cách tối đa.

Ở miền Nam, đi suốt một dải từ Đà Nẵng đến Mũi Cà Mau chúng ta đều gặp hầu hết làng quê có tâm niệm tạo lập cảnh quan theo hướng như vậy. Tất nhiên, cái tài tình, thông tỏ của ông cha ta là ở chỗ, mỗi vùng miền, làng quê đều mang những sắc thái riêng, phù hợp với khí hậu thổ nhưỡng. Vùng Miền Trung và Nam Trung bộ, những ngôi làng được tạo lập rất khoáng đạt, nhiều cây xanh, hình thái khuôn viên không có giới hạn rõ ràng, ngôi nhà đơn giản hơn phía Bắc, làm từ vật liệu tự nhiên là chính. Cây xanh cũng hữu dụng hơn để hái hoa, ăn quả và thường không cao lớn như phía Bắc. Tất cả tạo ra khung cảnh dung hợp với lối sống.

Ở miền Tây Nam bộ với đặc trưng là vùng sông nước, các thôn ấp thường ít nóc nhà hơn. Khung cảnh ở vùng này thường được tạo lập rất phóng khoáng, không chia cách giới hạn, như cách sống hào hiệp nắng gió, tự do của đồng bào. Khuôn viên mỗi ngôi nhà hoà nhập hoàn toàn vào không gian chung, nhiều khi đến không xác định được đâu là giới hạn. Kiến trúc cảnh quan ở những vùng này gần gũi, đan xen với sông nước bao quanh, mênh mang, chứ không tĩnh tại bến nước sân đình như phía Bắc. Những khuôn làng, chợ nổi dập đềnh trên sông, cùng cánh lục bình tao nên một cảnh quan tự nhiên, đầy bản sắc cuốn hút.

Vùng Tây nguyên xanh, giữa khung cảnh đại ngàn xanh mướt, những buôn làng cũng thật đặc sắc với những cảnh quan gắn kết với tự nhiên đằm thắm. Những ngôi nhà dài như nét mày kẻ ngang đồi, những ngôi nhà rông cao vút như nhấn mạnh về sức sống của con người giữa thiên nhiên hùng vĩ. Lạ thay, tất cả đều hoà quyện với cảnh sắc thiên nhiên thật êm ái, uyển chuyển. Không hề thấy sự phá phách hay “nhảy dù’’ thô bạo ở đây. Những nghệ sĩ sáng tạo cảnh quan dân gian Gia rai, Ba na, Ê đê, Mnông, Cơ ho, Xơ đăng… đã thành công trong việc tôn trọng tối đa thiên nhiên, kết hợp với sáng tạo linh hoạt, vận ứng, phù hợp với khung cảnh đại ngàn. Cách tổ chức khuôn viên của buôn làng cũng mang rất nhiều bản sắc riêng, nhưng hoàn toàn không làm suy suyển khung cảnh thiên nhiên nơi họ ngụ cư. Đặc biệt, Tây nguyên còn có dạng cảnh quan cho người đã khuất là nhà mồ, cũng rất nghệ thuật và ấn tượng. Những loại công trình này, không hề làm những khu rừng chứa đựng nó bị mai một chất nguyên bản. Rẫy của người Tây nguyên cũng đóng góp tích cực trong tạo lập cảnh quan cho vùng “đồng bằng’’ trên cao này.

Sự hòa quyện cảnh quan tự nhiên với công trình xây dựng